Author Topic: Bạn Cũ  (Read 1301 times)

0 Members and 1 Guest are viewing this topic.

Offline pipica

  • New Member
  • *
  • Posts: 49
Bạn Cũ
« on: December 21, 2011, 03:31:23 PM »
Truyện ngắn

BẠN CŨ

1.-


Hôm họp mặt các cựu học sinh các trường trung tiểu học Hội An, tôi ngồi cùng bàn với nhiều bạn bè cũ đã từng học chung trường từ tiểu học (trường Chùa Bà Mụ) lên trung học, (trường Trần Quí Cáp), trong những năm thập niên 50 và 60.

Có anh bạn tên Xáng mà bạn bè gọi tên Xáng Tếu là vui nhất. Khi Phúc, một anh bạn tôi, giới thiệu tôi với bạn bè đã khá lâu không gặp nhau, hỏi Xáng:

- Này ông Xáng Tếu ơi!, ông nhớ thằng này không? Thật tình nghe giới thiệu tên “Xáng Tếu” tôi chưa nhớ anh ta là ai, học chung với nhau năm nào. Anh đã vỗ tay reo lên:

- À, tau nhớ ra cái thằng này rồi, nhưng tau quên mất tên của hắn. Có phải hồi năm 52 học lớp nhì A với thầy Thống, hắn ốm nhom, ốm nhách. Hồi đó tau và tụi bạn gọi hắn là thằng “Bộ Xương Cách Trí”. Này người bạn cũ của tôi, có đúng không?

Mọi người cười ồ, nhìn vào tôi. Tôi ngượng quá, nhưng đúng quá. Hồi đó tôi gầy ốm lắm nên bị bạn bè chọc hoài, nhiều khi tức khóc ấm ức. Bây giờ trên nửa thế kỷ mà anh bạn vẫn còn nhớ, nhắc lại thật cảm động. Tôi gật đầu xác nhận:

- Đúng quá. Thật đáng phục trí nhớ siêu đẳng của anh Xáng.

Vài ba anh bạn khác muốn khai thác đề tài cười đùa, trong đó có Phúc, bạn thân của tôi, của Xáng từ hồi nhỏ, đứng lên mớm ý:

- Ông nhớ về hắn chỉ có một chi tiết đó, đúng thì có đúng, nhưng ít quá, yếu quá. Còn điểm nào đặc biệt về hắn nữa không, nói ra cho bạn bè nghe chơi.

Mọi người vỗ tay khuyến khích. Tôi cũng cười thật vui, nhưng trong bụng cũng ngán, sợ các anh bạn già này, vui miệng nói những chuyện bậy bạ ngày xưa còn bé, thi ket cả đám. Xáng vỗ tay bộp bộp như ra dấu cho mọi người yên lặng để nghe anh nói tiếp:

- Thằng này tuy ốm nhom như con cò nhưng hắn “lanh” lắm. Tau còn nhớ, giờ toán, thầy Thống hay ra các bài “toán chạy”. Thầy ra một bài toán, gõ cái thước xuống bàn cái rầm, ba đứa nào chạy lên bàn thầy nhanh nhất, nạp số thành các bài toán nhơn, chia khá dài, thì được điểm theo thứ tự, 10, 9, 8. 10 điểm cho đứa nhanh nhất, 9 điểm cho đứa thứ nhì, 8 điểm cho đứa thứ ba. Nếu đứa nào làm sai thì bị “hột vịt lộn”. Các ông biết không, lần nào cái thằng “Ròm” cũng kiếm 10 điểm hoài. Trong lớp, tôi cũng thuộc loại giỏi toán mà không hiểu sao cái thằng này tính làm sao mà nhanh thế. Tôi bèn rình dòm vào tờ giấy của hắn, thì khám phá ra, thầy Thống vừa viết xong bài toán, hắn chưa làm xong nhưng cứ chạy lên trước. Trong khi chạy lên như vậy, hắn mới tính miệng ra đáp số và viết vào giấy, khi để tờ giấy lên bàn thầy. Tôi phá kế hoạch của hắn, lên thưa thầy Thống. Thầy Thống kêu hai đứa lên bàn thầy, hỏi cho ra lẻ. Hắn không chối, nhưng nói rằng, hắn không làm gì sai vì nếu hắn tính miệng nhanh quá mà sai thì hắn sẽ bị zéro kia mà. Thầy Thống thay đổi, bắt mọi đứa ngồi viết xuống giấy đàng hoàng, rồi mới chạy lên nap số thành. Nhờ vậy đôi khi tôi đánh bại hắn được.

Một tên bạn khác ngồi bàn bên cạnh, nghe lóm vui quá, nói thật lớn:

- Này ông Xáng Tếu ơi!, ông kể chuyện ông dấu nón cô bé Thảo Nguyên đi.

Mọi người lại vỗ tay rào rào, thúc dục. Một tên khác la lên:

- Xin lỗi, Thảo Nguyên là ai vậy?

Một tên khác la lên:

- Đừng hỏi nhiều quá các ông ơi. Để đương sự kể là biết ngay và chắc hồi hộp và vui lắm.

Xáng đứng lên, ngồi xuống, có vẻ ngập ngừng một chốc, rồi uống một ngụm bia lớn, bắt đầu:

- Chuyện này gay cấn lắm và kết quả cũng bất ngờ lắm. Các ông nghe đây. Năm 54 sau khi đậu bằng tiểu học, bọn mình thời đó phải thi vào lớp đệ thất trường Trung Học Trần Quí Cáp. Tôi đậu vào lớp đệ thất 2.

Tôi nghĩ thật nhanh, “hèn chi mình chỉ nhớ anh bạn này rất ít, vì tôi đậu vào lớp đệ thất 1, không còn học chung lớp như ở dưới tiểu học”. Tuy nhiên ở một thành phố nhỏ bé như Hội An, một việc xãy ra cuối phố, Chùa Âm Bổn, đầu phố, Chùa Cầu -thượng Chùa Cầu, hạ Âm Bổn- cũng hay biết liền, huống hồ trong thế giới học trò chúng tôi, cái gì cũng tọc mạch, cũng kháo nhau, bàn tán xôn xao như chuyện đại sự vậy.

Giọng Xáng tiếp tục oang oang:

- Từ lớp đệ thất lên lớp đệ ngũ, lúc đó bọn mình còn nhỏ quá, chưa biết chuyện trai gái, hủ hỉ. Trong lớp có học chung với đám con gái, nhưng không có thằng nào dám hó hé chuyện trò vì sợ bạn bè “cắp đôi”, lan truyền ra ngoài đường phố, thì ê mặt lắm. Đôi khi cả đám cũng ngồi đấu láo với nhau, kháo con này đẹp, con kia có duyên. Không thằng nào dám “mơ tưởng” đến các “bà chị” cùng lớp cả. Còn các bà có để ý đến thằng nào, thì chỉ những thằng lớp cao hơn thôi. Tuy nhiên lên đến các lớp đệ ngũ, đệ tứ, khi bắt đầu viết những bài ngây ngô trong lưu bút ngày xanh, mỗi độ hè về, đua nhau viết, vẽ các tờ báo tường dịp Tết, khi trong môn Việt văn đã học các tác phẩm Cung Oán Ngâm Khúc, Truyện Kiều, khi biết tập tò chép thơ Xuân Diệu, Huy Cận, đọc truyện Tự Lực Văn Đoàn ... thì tình thế đã có phần đổi khác. Các cậu đã thập thò viết những lá thư xanh, tím, đỏ, vàng... cóp nhặt từ các tiểu thuyết lá cải, ba xu. Nhưng viết rồi, ít khi được gởi đi. Dĩ nhiên tôi cũng ở trong đám đó, ở trong tâm trạng đó.

Trong khu giếng Bá Lễ của tôi, nhà tôi ở cạnh nhà ông Đội Tấn, trưởng đồn cảnh sát Xóm Mới. Các bạn nhớ rằng, hồi thuở con nít tụi mình, ông Cò Cảnh Sát ở một thành phố nhỏ như Hội An, mọi người coi như một ông thánh, quyền hành dữ lắm, ai cũng ngán. Ông có hai người con gái. Người chị lớn tên Quỳnh Thi, cao, đẹp, học trên tụi mình một lớp. Người em tên... Lọ Lem, cũng đẹp lắm, dĩ nhiên dưới con mắt chủ quan trẻ thơ của tôi. Người xúi tôi, “con nít ăn cứt gà”  là ông nội Phúc này, hứa đãi tôi đi ăn bún Bà Chỉ, nếu tôi dám dấu được nón của cô bé ... Lọ Lem, học dưới bọn mình hai lớp, mà lớp học của cô bé bên cạnh lớp của bọn tôi.

Nghe được đi kéo ghế, ăn tô bún Bà Chỉ, tô bún to như chiếc ghe bầu ở Cửa Đại, có khúc giò ngon lành, tôi nuốt nước miếng ừng ực, hứa với Phúc, sẽ làm được trong một ngày nào đó, không xa. Ông nội Phúc chơi ác, ra hạn trong một tuần lễ không làm được thì hủy bỏ cuộc cá, kiếm thằng khác thế vào. Tôi sợ đến té đái trong quần, tìm cách ra tay càng sớm càng tốt, không thì mất phần, thiếu chi thằng nghe được là nhào vô liền.

Tôi sợ mất phần ăn và cũng lo cái thằng chó chết nào, phổng tay trên, lấy nón của em bé Lọ Lem của mình thì tàn cuộc đời trong ngõ hẻm.

May quá, cơ hội bằng vàng đến vào một buổi chiều thứ hai, khi cả lớp đệ thất của cô bé Lọ Lem ra góc sân lo việc thực tập nấu ăn trong môn Nữ Công Gia Chánh, trong lớp không còn ai. Tôi nhảy phốc qua cửa sổ, vào phòng, lại chỗ đám con gái để nón, tìm chiếc nón có quai tím mà cô bé Lọ Lem thường đội. Tôi cầm nón, nhảy ra khỏi phòng, chạy như bay ra nhà bác phu trường, nói dối của chị trưởng lớp nhờ gởi dùm, tôi sẽ lấy vào giờ sau, khi hết giờ học của lớp tôi.

Việc thuổng cái nón dễ như ăn ớt, êm ru bà rù, chẳng ai biết chi cả. Lớp tôi bải học trước lớp cô bé, nên tôi không được biết, khi cô bé phát giác ra bị mất cái nón, có khóc không, có lên phòng ông Giám Thị trình không. Tôi chờ đến sáu giờ chiều, khi cả trường vắng hoe, tôi chạy trở lại, vào nhà bác phu trường, sè sẹ đem cái nón về. Tôi đến nhà ông nội Phúc, khoe thành tích, và đòi đi ăn bún Bà Chỉ ngay hoặc ít ra là hai ngày nữa, cuối tuần. Ông nội Phúc tưởng xúi chơi, ai ngờ tôi làm thiệt, ổng lạnh chân, mặt tái mét, không còn hột máu, bảo:

- Thôi được rồi. Tau ngán mày thực tình. Tau có năm đồng đây, mày cầm lấy đi ăn bún Bà Chỉ đi. Tau không muốn dính vào, ngày mai thầy Giám Thị vào lớp, có ai chỉ mày, làm ơn nhận dùm một mình mày đi nghe, đừng khai tau xúi dại. Tau chối, không ai làm chứng đâu nếu mày khai cho tau.

Xáng nỗi máu anh hùng, nói ngay:

- Thằng này không ngán kỷ luật đâu. Có gan chơi, có gan chịu. Tau sẽ chịu một mình, nếu việc đổ bể. Thôi mày đi ăn bún Bà Chỉ với tau cho vui. Đi kéo ghế một mình, ăn mất ngon.

Quả nhiên sáng ngày hôm sau thầy Giám Thị vào lớp cô bé, hỏi mọi chuyện, rồi đi qua lớp của Xáng, hỏi:

- Hôm qua trò nào ăn cắp cái nón của một nữ sinh lớp bên cạnh, nói mau, trả lại nón, xin lỗi, không sẽ bị đưa ra Hội Đống Kỷ Luật,  đuổi học.

Tôi thấy không thể trốn tránh được và nhất là sợ bị đuổi học, nên đứng lên, thưa:

- Thưa thầy, con lở dại dấu cái nón đó, chứ không phải ăn cắp. Vì... vì hôm qua con bị đau đầu, cảm nặng, sợ đi nắng đau nặng hơn, nên thấy cái nón của ai bay ra ngoài cửa, con tưởng nón bỏ, con cầm đội và còn giữ ở nhà. Thầy cho con về lấy nón, trả lại và con xin lỗi.

Cả lớp cười khúc khích. Thầy Giám Thị làm nghiêm nhưng cũng chúm chím cười, đi lại xách tai Xáng đau điếng, rít lên:

- Trò nghịch hết chỗ nói. Trò có biết, nữ sinh đó con ai không? Thôi thầy cho phép trò, đem nón lại nhà ông Đội Tấn, trả cho con gái ông ta, xin lỗi và xin cho được cái giấy “thuận” của ông Cò, thì thầy tha cho. Còn không thì a lê húp, bị đuổi học.

Trời ơi! cái vụ này thì chết. Làm sao gặp được quan Cò thứ dữ đây. Tôi nghĩ ngay đến mẹ, thương con trai vì phận côi cút từ tấm bé, sẽ đi với tôi qua nhà ông Cò Tấn, năn nỉ, may ra ổng tha cho, viết cho cái giấy tha oan khiên, để khỏi bị đuổi học.

Không biết mẹ vì quá thương con trai ra sao, nên bà đi qua nhà ông Cò, nói chuyện với bà Cò. Khi ông Đội về, nghe chuyện cũng nỗi máu Trương Phi, đòi bỏ tù tôi một tháng, nhưng bà Cò bảo ông:

- Thôi ông tha cho nó, con nít, con nôi, hoang nghịch, chơi dại. Nó mồ côi, mồ cút, không có cha, ông xem nó như con trai mình, nhà mình không có con trai mà.

Ông tạm thôi máu nóng anh hùng, chỉ mặt Xáng nạt nộ:

- Đúng lý trò phải ở tù một tháng vì không tôn trọng... con gái của người hành xữ luật lệ nước nhà. Tôi phạt trò một tháng, hằng ngày đến đây, sau khi đi học về, tưới cây, tưới hoa, cào lá, quét sân. Nghe chưa? Thứ hai đầu tuần sau bắt đầu.

Tôi vòng tay lí nhí:

- Con chấp thuận hình phạt đó. Xin bác viết cho con vài chữ để con trình với thầy Giám Thị về cái lệnh của bác.

Xáng cười hể hả:

- Các ông thấy không. Từ họa biến ra phúc. Nhờ được đến nhà ông Đội tưới cây, tỉa hoa, tôi có hoa tay với hoa lá cành, nên vườn ông hoa lá xinh tươi và tôi nhờ vậy... làm quen với cô con gái út của ông, cô bé Lọ lem, tên thật đẹp là Thảo Nguyên, là... là... “bà cụ của ba đứa con của tôi”, là bà xã tôi đó.

Mọi người cười vang, vỗ tay tán thưởng.

2.-

Một buổi sáng cuối tuần, tôi và Phúc hẹn nhau đi uống cà phê tại tiệm Coffee Factory. Còn vui về cuộc họp mặt của bạn bè Hội An trước đó, tôi hỏi Phúc:

- Hôm đó vui quá, rồi hết giờ, ra về. Tôi cố tìm Xáng để hỏi thăm thêm về gia đình, con cái và nhất là số điện thoại của nó, để có dịp gọi nói chuyện cho vui. Ông cho tôi xin số điện thoại của nó nhé.

Phúc gật đầu, cười:

- Thằng đó là vui nhất. Lúc nào cũng tếu, cũng diễu được. Con người nó thật vô tâm, không ghét bỏ, thù hận ai dù cuộc đời của nó nhiều lắm đau khổ, trần ai.

Ông biết không, hồi năm 85, khi bọn Cộng Sản Việt Nam chọn giải pháp đổi mới để tự cứu nguy, tôi về Việt Nam để thăm bà già tôi đã trên tám mươi, đang đau ốm nặng. Ông không thể tưởng tượng được, lúc đó Việt Nam mình thảm thương, tiêu điều, đói khổ như vậy. Tôi có việc vào Hội An thăm bà chị. Khi xe đổ ở bến Trại Nông, đầu thành phố. Tôi xuống xe, định tìm một chiếc xe xích lô đạp nào đó, do một ông già đạp, để có ý giúp người cùng khổ. Có đến năm sáu người xe ôm, nhào đến dành giựt tôi. Tôi nhìn lên, nhận ra một khuôn mặt quen quen, nhưng không nhớ ai, tên gì. Anh ta hình như cũng nhận ra tôi trên vài nét mặt nào đó ngày xưa. Tự nhiên tôi cầm cứng tay anh ta, nói lớn với đám đông ồn ào:

- Tôi có anh bạn tôi đây, đến đón tôi rồi. Cho tôi đi.

Đám đông dãn ra. Có vài tiếng chưỡi thề. Anh ta kéo tay tôi đi lại chiếc xe đạp trông thật thổ tả cũng như  anh ta vậy. Vừa đi anh ta có vẻ suy nghĩ dữ dội, tìm trong chiếc đầu bơ phờ, tôi là ai.

Lần này tôi nhớ anh ta trước, la lớn:

- Trời ơi! Xáng phải không? Tôi Phúc đây!

Tôi thấy đôi mắt anh ta như trủng xuống, miệng méo xệch, nước mắt bắt đầu rịn quanh mi. Rôi anh ta cắn hàm răng dưới lên môi trên như thể để chặn lại cơn xúc động, sắp khóc òa:

- Phúc hả?

Chỉ nói được hai tiếng, anh ta khóc òa thật như một đứa trẻ. Tôi cũng xúc động, chảy nước mắt, không nói được tiếng nào.

Khá lâu, để khỏa lấp, tôi bắt đầu đùa cho vui:

- Thôi gặp lại nhau là mừng rồi. Bây giờ mày chở tau lại quán bún Bà Chỉ, ăn một tô xe lửa cho đã cơn ghiền, đã cơn nhớ Hội An.
Xáng lắc đầu:

- Bà Chỉ chết lâu rồi, quán bún đó dẹp  tiệm cũng lâu lắm rồi. Thôi tôi chở ông về nhà tôi cho biết. Không ngờ cuộc đời tôi có ngày xuống chó như hiện nay, nhưng rồi vẫn còn gặp được bạn hiền thời thơ ấu!

Tôi nghe tiếng “chết”, tiếng “dẹp tiệm”, tiếng “xuống chó” từ miệng của Xáng thốt lên,  như những nhát búa đánh vào màng tang tôi, đau buốc. Nhưng rồi những tiếng “bạn hiền”, “thời thơ ấu” như những điệu nhạc vui tươi, những tiếng cười vang bất tận.

Tôi nãy ra ý kiến, bảo Xáng:

- Này Xáng, mày chở cho tau lại chợ Hội An, vào mua gạo, thịt gà, mì, bún... về nhà bà xã mày làm mì Quảng ăn chơi, mừng ngày hội ngộ. Tau thèm ăn một tô mì  Quảng ngay chính tại quê hương đau khổ này mới thấm!

Nó lại cười méo xẹo, trở lại biết đùa:

- Hồi nhỏ mày chỉ biết xúi dại, bây giờ làm Việt Kiều, mày học  được “xúi khôn”. Nhưng ông nội Việt Kiều ơi, ông chưa biết Việt Nam bây giờ, ông có tiền mà không biết mánh mung, thì cũng không có hàng mà mua. Những món hàng thuộc diện cao cấp, đó dân “cựu Ngụy” không được quyền rờ đến. Nhưng mà thôi, đối với tên Xếnh Xáng này, có tiền mua tiên cũng được kia mà.

3.-

Một buổi tối thứ sáu, Xáng gọi cho tôi, cười hì hì:

- Tôi có số điện thoại của ông qua thằng Phúc. Ngày mai, thứ bảy bà xã tôi được nghỉ, không phải đi cày overtime, nên bọn tôi muốn “hú” các bạn bè thân, chỉ bốn tên bọn mình, ông, Phúc, tôi và một tên bạn thân của tôi, cũng dân Quảng Nam, hồi nhỏ học Phan Chu Trinh, ngoài Đà Nẵng, bạn tâm giao của tôi trong những năm tù tội cải tạo ở miệt Tiên Lãnh, núi rừng Quảng Nam. Thực đơn là món “quốc hồn quốc túy Quảng Nam”. Đố ông biết món gì? Nói trúng được 10 điểm như làm toán chạy hồi học thầy Thống.

Tôi bật cười, đúng là tên này lúc nào cũng tếu được. Tôi bí không đoán nỗi món gì. Xáng cười vang trong ống điện thoại:

- Tên này già rồi, “dở bợm” thiệt tình, có vậy, dễ ợt mà cũng chịu thua. Thôi mai gặp nhau nhé. À mà ông bảo thằng Phúc bốc ông đi cho tiện, vì cái chung cư tôi ở hơi xa, trong khu toàn dân Mễ, khó tìm. OK nhé.

Xáng cúp máy và cũng quên nói cho tôi biết, cho bọn tôi ăn món gì mà gọi là “quốc hồn quốc túy Quảng Nam”.

Tôi gọi cho Phúc. Phúc hỏi tôi ngay:

- Thằng Xáng mới gọi cho ông hả? OK, ngày mai lúc mười một giờ trưa tôi đến đón ông tới thằng Xáng chơi cho vui.

- Nè Phúc, ông có nghĩ, bọn mình ghé lại tiệm lấy thêm một vài thứ gì, như thịt heo quay, gà hấp muối, vài chai rượu vang, bia... để góp vào... cho vui không?

- Khỏi ông ơi! Ông chưa biết thằng Xáng, nó tếu thật nhưng nó lại rất tự ái, tự trọng... đến mức không ai cản nỗi.

- Còn cái vụ nó bảo, đãi bọn mình món “quốc hồn quốc túy Quảng Nam” là món khỉ khô gì vậy?

- Ờ, nó cũng bảo tôi y như vậy. Nó diễu lắm. Thôi ngày mai đến nó rồi biết.

Phúc đến đón tôi sớm hơn dự trù, lúc mới mười giờ rưỡi. Tôi mời Phúc vào nhà chơi một tí, uống chén trà, rôi đi cũng còn sớm chán. Phúc lắc đầu, có vẻ suy nghĩ:

- Thôi mình đi. Tôi muốn nói cho ông nghe chuyện này.

Thấy Phúc có vẻ đăm chiêu, tôi ngồi yên trên xe, lắng nghe:

Thằng Xáng nó đang bị bệnh ung thư phổi. Nó mới phát giác ra độ hơn vài tháng nay. Thì như ông thấy đó, nó rất tếu, nhưng cái gì riêng tư, cá nhân, nó lại bí mật, không muốn làm phiền ai cả, dù bạn bè thân đến mấy. Sở dĩ tôi biết được là do vợ nó điện thoại tiết lộ cho tôi hay, dù biết rằng sau đó khi nghe tôi hỏi, nó sẽ “nồ” bà vơ. Tôi đến nhà nó, ngồi nói chuyện với nó, “chỉ tướng” nó:

- Xáng, mày mà dấu tau thì tau “cạch” mặt mày ngay. Bên Mỹ này, mày đang thất nghiệp, tuổi trên 65, có thẻ MediCal, bị bệnh dù nặng hay nhẹ đến mấy, mà chậm đi bác sĩ chuyên khoa, thì coi như mày... tự ý chọn cửa tử. Mày vui, yêu đời, yêu vợ con,  tốt với bạn bè, vừa bước ra khỏi địa ngục, sao mày trở nên lạ lùng, yếm thế, sơ...ï sống khổ hay sao?

Nó ngồi yên, nước mắt quanh tròng. Tôi cũng thật xúc động, không nỡ đánh thêm những cú direct nữa.

Một lúc khá lâu, nó ngập ngừng:

- Mày biết đó, tính tau là vậy, việc gì riêng tư  của mình, mình ráng gánh chịu, không than van, không cầu khẩn. Nhưng tau cực lực cảnh cáo mày, dám nói rằng tao muốn trốn tránh nợ đời. Xin lỗi mày, thằng này, cả đời chưa bao giờ lui bước trước nghịch cảnh, bi thảm của cuộc đời. Tính tau là muốn xông xáo vào “chửa tử” để tìm “cửa sinh”. Dĩ nhiên bây giờ đến tuổi sắp già, tau càng chiến đấu dữ tợn hơn, còn số mình có còn thắng định mệnh hay không lại là một thách đố thú vị. Mày yên tâm. Khi nào rãnh rổi, tau mời bạn bè, những tên chơi được đến uống trà, nói chuyện vui.

Nói xong, Xáng cười, những tràng cười thoải mái.

Phúc lắc đầu, lẩm bẩm:

- Cái thằng lạ lùng, khóc đó rồi đùa được như thường.

Tôi hỏi Phúc:

- Thế, nó đã chịu đi gặp bác sĩ chưa? Có cần bạn bè hổ trợ gì không, nhất là về phương diện tinh thần?

- Nó đã đi bác sĩ và nhà thương chuyên môn, khám bệnh, uống thuốc. Mấy ngày hôm sau, tôi gọi nhắc nó, hỏi xem kết quả thế nào. Nó cười ha hả:

- Đừng nóng lòng mày ơi. Cuộc chiến giữa tau và cái bệnh ác ôn, côn đồ này, cũng như cuộc chiến Quốc Cộng, còn dài dài, chưa biết kết cục tới đâu. Vừa đánh vừa đàm, vừa tiêu diệt, vừa chừa một cửa, mong cho nó rút lui êm thắm, không thì biến chứng nguy hiểm cho bản thân mình, cho cả quốc gia dân tộc!

Phúc lại lắc đầu ngao ngán:

- Ông có thấy ngán nó chưa. Cái gì cũng đùa được.

Có lẽ Xáng ở trong nhà nhìn ra thấy tôi và Phúc đến sớm, nên chạy ra, nói lớn:

- Hai thằng này nghe món lạ, đến sớm ghê. Thôi vô đây cà phê, cà pháo cái đã.

Hôm gặp nhau trong bữa tiệc họp mặt, dưới ánh đèn, Xáng mặc đồ lớn, cà vạt, da thịt đỏ au, nên thấy nó phương phi. Hôm nay nó chỉ mặc cái quần jean bạc màu, áo thung nên trông ốm nhom, xanh xao. Tôi cảm thấy xót xa.

Phúc vỗ vai Xáng, bảo:

- Này Xáng, mày nói cho tụi tau biết, hôm nay mày đãi món chi mà bảo là “quốc hồn quốc túy Quảng Nam”?

Xáng đưa hai tay lên trời, như la lớn:

- Đúng là mấy tên này càng ở lâu ở Mỹ, xa quê hương lâu ngày quá, quên hết. Ờ, thì chỉ có cao lầu Hội An là món đặc trưng của xứ Quảng. Tôi mời các ông thưởng thức món đau khổ quê hương “nghìn trùng xa cách”.

Vừa mở cửa bước vào nhà, Xáng kêu vợ:

- Em ơi! bà Thảo Nguyên bị ăn cắp nón lá, đâu rồi? Có hai tên bạn cũ đến thưởng thức món cao lầu đây.

Bà xã Xáng, Thảo Nguyên từ bếp chạy lên, tay còn cầm đôi đủa, chào chúng tôi:

- Mời hai anh ngồi chơi. Hai anh “đừng nghe những gì anh Xáng nói, hãy nhớ kỹ những gì anh Xáng làm”.

Tôi và Phúc cùng cười:

- Chị đừng ngại. Bọn tôi biết Xáng trên nửa thế kỷ rồi. Nay gặp lại Xáng như gặp lại một thời tuổi thơ.

Xáng vỗ tay cười ha hả./.

Xuân Đỗ

Diễn đàn Người Hội An - Cộng đồng Người Hội An

Bạn Cũ
« on: December 21, 2011, 03:31:23 PM »